|

Cập nhật Tác động của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế Việt Nam và vai trò của chính sách tiền tệ

Vay tiền online siêu nhanh hay còn gọi là vay tiền trực tuyến là biện pháp vay nhanh số tiền từ 500k tới 10 triệu đồng sở hữu hồ sơ rất đơn thuần , ko chứng minh thu nhập, vay tiền online chỉ cần CMND và account ngân hàng chính chủ. Tiền vay sẽ nhận qua chuyển khoản vào trương mục ngân hàng , nhận tiền ngay sau lúc phê chuẩn.

Taichinh1s là website so sánh, phân tích các sản phẩm nhà sản xuất vay tiền online giúp khách hàng giải quyết những vấn đề nguồn vốn . Website này chẳng phải ngân hàng , đơn vị vốn đầu tư , bảo hiểm nhân thọ hay bất kỳ đơn vị nào và cũng ko cung ứng bất cứ khoản vay nào.

Mọi tuyển lựa về khoản vay, thời kì thanh toán đều thuộc về nghĩa vụ của bạn và chúng tôi sẽ ko chịu bất cứ nghĩa vụ nào khi với phát sinh vấn đề giữa bạn và các doanh nghiệp cho vay. Mọi thông báo chỉ với thuộc tính tham khảo!

Trong văn bản bài viết dưới đây, mình xin mạng phép chia sẽ đến quý đọc giả Tác động của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế Việt Nam và vai trò của chính sách tiền tệ

Hình minh họa. Nguồn: Internet.

Nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi những tác động xấu, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh giảm mạnh, ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe doanh nghiệp và đời sống của người dân. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã quyết liệt vào cuộc cùng cả hệ thống chính trị nhằm hạn chế thấp nhất những tác động xấu từ dịch Covid-19, khôi phục sản xuất kinh doanh. Bài báo này trình bày những tác động của dịch Covid-19 đối với nền kinh tế Việt Nam và đánh giá vai trò của chính sách tiền tệ và điều hành tỷ lệ ứng phó của Chính phủ trong thời kỳ đại dịch.

Tác động của dịch Covid-19 đối với nền kinh tế Việt Nam

Đại dịch Covid-19 đã gây ra những ảnh hưởng toàn diện và sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới và vẫn còn diễn biến phức tạp. Nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn và hội nhập quốc tế sâu rộng đã và đang chịu nhiều tác động nghiêm trọng đến các lĩnh vực kinh tế – xã hội.

GDP quý I / 2020 của Việt Nam chỉ tăng 3,82%, mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Hầu hết các hoạt động kinh tế đều giảm sút, chỉ số sản xuất công nghiệp, bán lẻ và dịch vụ, vốn đầu tư toàn xã hội, nhập khẩu, tín dụng vẫn tăng trưởng nhưng ở mức thấp; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký và thực hiện đều tăng trưởng âm. Trong quý I / 2020, nhiều ngành có mức tăng trưởng giảm mạnh như: Nông nghiệp (-1,17%); khai khoáng (-3,18%); ăn ở (-11%); vận tải, kho bãi (-0,9%); hoạt động hành chính (-3,5%). Tổng cầu giảm mạnh từ cả đầu tư, tiêu dùng trong nước và cầu hàng hóa thế giới. Nhu cầu trong nước và quốc tế đều bị hạn chế bởi các biện pháp khóa quốc gia và cách xa xã hội.

Toàn bộ hệ thống thị trường và nền kinh tế quốc gia và thế giới sụt giảm đột ngột. Đáng chú ý, hai động lực tăng trưởng quan trọng nhất là đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài đều suy yếu. Đầu tư ngân sách nhà nước tăng mạnh cho thấy Chính phủ đã tích cực thực hiện các chính sách thúc đẩy đầu tư công để hạn chế suy thoái kinh tế. Tuy nhiên, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm và không đủ lớn để bù đắp cho sự sụt giảm của đầu tư tư nhân và FDI. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ quý I / 2020 chỉ tăng 4,7% (loại trừ yếu tố tăng giá), thấp hơn nhiều so với mức tăng 9% của quý I / 2019. Đây là mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua…

Tính chung 4 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó mức bán lẻ hàng hóa chiếm 80,6% tổng mức, tăng nhẹ (0,4%) do cho đến sự phổ biến gần đây của việc mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng. Thu hút khách quốc tế giảm 37,8%; Các hoạt động dịch vụ khác như vận tải, nhất là vận tải hàng không, dịch vụ lưu trú, ăn uống … cũng bị ảnh hưởng nặng nề.

Sự phát triển của doanh nghiệp bị ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh, hầu hết các doanh nghiệp đều thận trọng trong việc đầu tư thêm vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng tăng chậm lại, số vốn tăng thêm hoặc cam kết đưa vào kinh doanh giảm so với cùng kỳ năm 2019. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp đạt khoảng 11,8 tỷ đồng. . , giảm 5,5% so với cùng kỳ. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngắn hạn tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 33,6%), nhất là các lĩnh vực: kinh doanh bất động sản; nghệ thuật, vui chơi và giải trí; dịch vụ lưu trú và ăn uống; du lịch; giáo dục và đào tạo và vận chuyển và kho bãi.

Vai trò của chính sách tiền tệ trong phòng chống dịch bệnh

Ngay khi dịch bùng phát, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc quyết liệt, cùng với sự đồng lòng, đoàn kết của toàn quân và toàn quân trong công tác phòng chống dịch. Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách, trong đó chính sách tiền tệ đã khẳng định vai trò lưu thông “dòng máu” trong nền kinh tế, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất.

Trong thời kỳ dịch bệnh, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của các chính sách, trong đó có chính sách tiền tệ là: Duy trì hoạt động kinh doanh để giảm thiểu phá sản; Duy trì việc làm cho người lao động, hạn chế thất nghiệp và mất thu nhập; Đảm bảo hệ thống ngân hàng – huyết mạch của nền kinh tế – duy trì trạng thái ổn định, hoạt động tốt, có khả năng vực dậy nền kinh tế sau đại dịch.

Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều dựa vào các khoản vay được đảm bảo bằng doanh thu trong tương lai. Khi nền kinh tế đóng cửa, nhiều doanh nghiệp phải ngừng hoạt động, nhưng doanh nghiệp có vốn vay vẫn phải trả nợ và lãi. Nếu chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất không có tác dụng sẽ dễ dẫn đến làn sóng vỡ nợ, phá sản doanh nghiệp và thảm họa cho thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tín dụng.

Đây là bản chất của các cú sốc cung và trong bối cảnh đó, các chính sách tiền tệ truyền thống sẽ không hoạt động. Việc giảm lãi suất và tăng thanh khoản cũng không khiến doanh nghiệp phải vay thêm, vì doanh nghiệp hầu như không có nhu cầu vay trong giai đoạn này. Đồng thời, do nguồn cung bị gián đoạn, nhiều doanh nghiệp không có doanh thu, dẫn đến không có khả năng trả nợ, khi đó việc tiếp cận tín dụng sẽ càng khó khăn hơn đối với doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ có thể hỗ trợ khu vực sản xuất kinh doanh thông qua việc Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ các ngân hàng thương mại cơ cấu lại các khoản nợ hiện có cho khách hàng (giảm lãi suất, giảm lãi suất vay…). đối với các khoản nợ vãng lai, đảo nợ ..); được miễn, giảm lãi trong thời gian doanh nghiệp không có doanh thu.

Ngân hàng Nhà nước đã chủ động ban hành các văn bản và yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát, đánh giá tác động của dịch đối với khách hàng để xây dựng kế hoạch, kịch bản hành động cho ngân hàng. khách hàng, nhằm tháo gỡ khó khăn cho khách hàng, tạo khuôn khổ pháp lý để tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi tiền vay, giữ nguyên nhóm nợ, hỗ trợ người vay bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 trên tất cả các lĩnh vực và các ngành nghề.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng công khai, minh bạch các thủ tục, điều kiện cho khách hàng; Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố lập ngay đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời, dứt điểm từng trường hợp doanh nghiệp vướng mắc, xử lý nghiêm những trường hợp thiếu trách nhiệm, gây khó dễ. hỗ trợ doanh nghiệp và người dân chậm trễ; điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận phù hợp, trong đó không chia cổ tức bằng tiền mặt, tiết kiệm nguồn lực để chia sẻ khó khăn, hỗ trợ khách hàng bằng cách giảm mạnh lãi suất cho vay đối với khách hàng.

Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu toàn hệ thống tiết giảm triệt để chi phí nhằm giảm lãi suất cho vay, chia sẻ khó khăn với khách hàng nhiều nhất có thể; chủ động cân đối, sẵn sàng nguồn vốn để đầu tư vào các phương án, dự án khả thi, coi các khoản vay mới hỗ trợ khắc phục hậu quả dịch bệnh là yếu tố then chốt để thúc đẩy tăng trưởng. Các tổ chức tín dụng tiếp tục đơn giản hóa thủ tục nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng vay vốn, nhưng không nới lỏng, hạ thấp điều kiện tín dụng để bảo đảm chất lượng tín dụng, duy trì lành mạnh và an toàn. tình hình hoạt động ngân hàng trong những năm tới; Đồng thời, xây dựng quy định về việc tái cấp vốn (tối đa 16.000 tỷ đồng) để Ngân hàng Chính sách xã hội cho người sử dụng lao động vay trả lương ngừng việc cho người lao động và đang lấy ý kiến ​​các bộ, ngành. liên quan đến.

Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm lãi suất điều hành từ 0,51% / năm, giảm 0,5% trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên và giảm lãi suất cho nhà đầu tư. cho vay tối đa 2% so với thời điểm trước khi có dịch đối với khoản vay cũ và khoản vay mới; điều hành tỷ giá phù hợp với tình hình vĩ mô, lạm phát, diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ nhằm bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; đồng thời tích cực triển khai các giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt, giảm phí giao dịch thanh toán liên ngân hàng.

Cùng với việc tập trung tín dụng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dư nợ tín dụng đến 31/3/2020 đạt gần 4,4 triệu tỷ đồng, tăng 1,2% so với cuối năm 2019, chiếm tỷ trọng 53,7% nền kinh tế. dư nợ, tổ chức tín dụng cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, miễn giảm lãi suất và giữ nguyên nhóm nợ, giảm lãi suất đối với dư nợ hiện có, cho vay mới với lãi suất ưu đãi. Ưu đãi thấp hơn 1% -2% so với lãi suất cho vay trước dịch. Hàng trăm nghìn khách hàng đã được hưởng các gói hỗ trợ trị giá hàng nghìn tỷ đồng. Kết quả này cho thấy nỗ lực rất lớn của toàn ngành ngân hàng trong bối cảnh dịch Covid-19 đã ảnh hưởng sâu sắc đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế.

Mặt bằng lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng cũng liên tục giảm, hiện trong khoảng 0,1-0,5% / năm đối với tiền gửi không kỳ hạn có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3-4,75% / năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 5,3-6,8% / năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,6-7,4% / năm ở cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.

Mặt bằng lãi suất cho vay cũng theo xu hướng giảm, đặc biệt lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên đã giảm khoảng 0,5% / năm so với cuối năm 2019. Tỷ giá, thị trường ngoại tệ cơ bản ổn định, tâm lý thị trường không bị xáo trộn. , đặc biệt là cân đối cung cầu ngoại tệ khá thuận lợi, chỉ dao động trong biên độ 1,3-1,5%. Thanh khoản thị trường thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời.

Quyết định giảm lãi suất điều hành trong bối cảnh dịch Covid-19 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh tiếp cận nguồn vốn giá rẻ thông qua việc hạ lãi suất. lãi suất cho vay và giảm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp, đưa hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại trạng thái bình thường và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, song song với việc kiềm chế lạm phát.

Việc hạ lãi suất cũng giúp thanh khoản thị trường tiền tệ được dự báo tiếp tục duy trì ở trạng thái dồi dào, mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định. Trong bối cảnh giải ngân vốn đầu tư công còn nhiều điểm nghẽn, chính sách tiền tệ được kỳ vọng sẽ hỗ trợ kịp thời để hỗ trợ nền kinh tế. Diễn biến thị trường trong và ngoài nước vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn khó lường, trong đó việc NHNN các nước duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp kỷ lục, nhưng với nhiều giải pháp nới lỏng chính sách tiền tệ, dư địa cho việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN vẫn còn. Khá lớn.

Có thể khẳng định, cách hỗ trợ thị trường và nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ đã thể hiện tính kịp thời và sát với diễn biến của thị trường. Các giải pháp hỗ trợ quan trọng như hoãn, gia hạn, cơ cấu lại nợ cùng với việc giới thiệu các gói tín dụng quy mô lớn … đã được đưa ra nhằm giúp doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng nợ nần, chịu đựng trong thời điểm khó khăn. và đến nay, khi cơ hội sản xuất kinh doanh dần mở ra, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm lãi suất điều hành để tạo mặt bằng cho lãi suất cho vay giảm. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế. Việc hạ mặt bằng lãi suất chung cũng như tiếp tục tăng các gói tín dụng ưu đãi của các ngân hàng thương mại là rất quan trọng trong quá trình từng bước phục hồi và có thể tạo ra lợi ích cho nền kinh tế trong thời gian tới …

Người giới thiệu:
1. Bộ Chính trị (2020), Kết luận số 77-KL / TW về chủ trương khắc phục ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 để khôi phục và phát triển kinh tế đất nước;
2. Tổng cục Thống kê (2020), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 5 tháng đầu năm 2020;
3. Viện Nghiên cứu và Đào tạo BIDV (2020), Báo cáo đánh giá tác động của dịch Covid-19 đến các ngành kinh tế Việt Nam;
4. Vũ Đình Ánh (2020), Chính sách tiền tệ, tín dụng ứng phó với đại dịch Covid-19, Tạp chí Nghiên cứu Ngân hàng số 7/2020;
5. Báo Đầu tư (2020), Toàn cảnh ngân hàng 2020.

Rate this post

Similar Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *